Trong các thủ thuật can thiệp hiện đại, hiệu suất hình ảnh ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác và an toàn phẫu thuật. Hệ thống cánh tay chữ C di động dòng OEC được thiết kế để cung cấp hình ảnh huỳnh quang và hình ảnh thể tích ba chiều trong phòng mổ, đáp ứng nhu cầu về độ rõ nét và hiệu quả cao trong điều trị can thiệp phức tạp.
Hệ thống cánh tay chữ C di động OEC kết hợp các thuật toán hình ảnh tiên tiến với cấu hình phần cứng để cải thiện khả năng trực quan hóa trong mổ. Trong quá trình thao tác dây dẫn tinh vi, hệ thống thể hiện độ phân giải cao, hiển thị rõ ràng dây dẫn 0,014 inch ở vùng ngực và bụng, và dây dẫn 0,008 inch trong các thủ thuật mạch máu ngoại vi. Với màn hình 4K lớn, bác sĩ có thể quan sát các tổn thương nhỏ và đường đi của thiết bị với độ chính xác cao hơn.
Để giải quyết tình trạng nhiễu nhiễu lâm sàng phổ biến, hệ thống tích hợp thuật toán phần mềm giảm nhiễu nâng cao, hay eNR. Công nghệ này tự động giảm nhiễu hình ảnh tới 30%, cho phép hình ảnh di động đạt hiệu suất hình ảnh của thiết bị phòng cố định công suất cao 30 kW. Điều này hỗ trợ dữ liệu hình ảnh sạch hơn, chi tiết hơn mà không làm tăng liều bức xạ.
Hệ thống được thiết kế để hỗ trợ các thủ thuật can thiệp kéo dài, phức tạp cao thông qua một số tính năng tập trung vào hiệu quả:
| Tính năng | Chi tiết kỹ thuật |
|---|---|
| Trực quan hóa dây dẫn | 0,014 inch ngực và bụng; 0,008 inch mạch máu ngoại vi |
| Giảm nhiễu hình ảnh | Thuật toán eNR giảm 30% nhiễu |
| Zoom động | Live Zoom lên đến 4x với liều lượng không đổi |
| Hình ảnh 3D | OEC 3D cung cấp năm góc nhìn huỳnh quang |
Hệ thống OEC 3D cung cấp dữ liệu thể tích từ năm góc nhìn khác nhau, tạo ra kết quả hình ảnh giống CT. Phần mềm OEC 3D Volume Viewer đi kèm cho phép bác sĩ thực hiện cắt lát đa xiên, đo vùng, điều chỉnh độ rộng và mức cửa sổ, xoay và thu phóng, cung cấp hỗ trợ hình ảnh cho việc ra quyết định trong mổ.
Hệ thống được sử dụng trong nhiều loại hình điều trị can thiệp, bao gồm thuyên tắc động mạch tuyến tiền liệt, thuyên tắc động mạch tử cung, điều trị hội chứng sung huyết vùng chậu, thuyên tắc động mạch gối và thuyên tắc rò tĩnh mạch.